Thuốc đặc trị Thuốc nam đặc trị chữa khỏi bệnh viêm teo niêm mạc hang vị dạ dày

 

Theo quan điểm của y học hiện đại

Viêm teo niêm mạc dạ dày mạn tính (Chronic atrophíc gastritis – CAG) là bệnh thường gặp trong hệ thống đường tiêu hoá. Hậu quả nghiêm trọng của nó là gây ra biến chứng tiền ung thư và ung thư dạ dày. Gần đây với những tiến bộ trong phương pháp nội soi, kính hiển vi điện tử, đồng vị phóng xạ, cộng hưởng từ ... Người ta đã xác định được những biến đổi vi thể, siêu cấu trúc niêm mạc dạ dày, xác định nguồn gốc và bản chất những rối loạn chức năng trong quá trình thoái hoá để có phương pháp chẩn đoán và điều trị tích cực.Khương Phúc nhận Cúp vàng thương hiệu bài thuốc quý Việt Nam

Thoái hoá cấu trúc niêm mạc dạ dày gồm những thay đổi về hình thái lớp biểu mô, lớp đệm, lớp tuyến và hiện tượng phì đại, xơ teo, dị sản niêm mạc dạ dày. Bằng kính hiển vi điện tử ,người ta có thể phát hiện những biến đổi siêu cấu trúc nhân, nguyên sinh và màng tế bào trong quá trình thoái hoá. Từ những biến đổi cấu trúc nhân tế bào, nguyên sinh và màng tế bào dẫn đến rối loạn chức năng dạ dày trong quá trình thoái hoá.

Rối loạn chức năng vận động chủ yếu là rối loạn co bóp, giảm trương lực và giảm nhu động do ảnh hưởng hệ thần kinh giao cảm và thần kinh số X. Dạ dày giãn sa xuống nhưng môn vị và tâm vị lại co thắt. Rối loạn chức năng bài tiết do tế bào bị thoái hoá nên lúc đầu độ toan tăng lên do kích thích, giai đoạn sau lại giảm tiết, cuối cùng làm ngưng trệ bài tiết HCl, chất nhày và các yếu tố nội (là các yếu tố cần thiết cho hấp thu vitamin B12). Quá trình này dẫn đến thiểu toan và nặng hơn là vô toan mà hậu quả nghiêm trọng là thiếu máu ác tính Biermer.

Người ta cho rằng: thoái hoá niêm mạc dạ dày càng nặng thì tỉ lệ ung thư dạ dày càng cao.

Trên thực tế tôi đã gặp một ca bị viêm xơ niêm mạc dạ dày, là quá trình xơ hóa diễn ra sau viêm teo niêm mạc dạ dày. Tôi đã nghi ngờ và tư vấn người nhà đi khám chuyên sâu hơn và kết quả đúng như dự đoán bệnh nhân này bị ung thư dạ dày và tử vong mấy tháng sau đó.

Phân loại viêm teo niêm mạc dạ dày theo Kimura C1, C2, C3, O-1, O-2, O-3 là gì.

Phân loại viêm teo niêm mạc dạ dày theo Kimura – Takemoto, Nhật Bản, ông định nghĩa và phân loại năm 1966. Theo đó ông lấy ranh giới vùng teo với vùng lành để phân biệt gọi là: bờ teo niêm mạc. (BTNM).

- C1:  bờ teo niêm mạc đi ngang hoặc thấp hơn bờ cong nhỏ dạ dày. Nghĩa là dấu hiệu teo niêm mạc chỉ ở vùng hang vị dạ dày.

- C2:  bờ teo niêm mạc bắt đầu từ phía bờ cong lớn vùng hang vị, tiến đến mặt trước và sau tiến ngang qua bờ cong nhỏ tạo ra hình khép kín gần như đối xứng, theo hình parabol phía trên góc bờ cong nhỏ nhưng chưa vượt quá ½ dưới của thân vị.

- C3:  bờ teo niêm mạc nằm trên bờ cong nhỏ nhưng đã vượt quá ½ phần phía dưới thân vị.

- O-1: bờ teo niêm mạc nằm giữa bờ cong nhỏ và thành trước dạ dày, song song với trục dọc của dạ dày.

- O-2: bờ teo niêm mạc nằm ở giữa thành trước dạ dày.

- O-3: bờ teo niêm mạc nằm giữa thành trước và bờ cong lớn dạ dày.

Như vậy phân loại này chỉ đánh giá theo vị trí bề mặt chứ không đánh giá tổn thương nông hay sâu, teo nhẹ hay nặng.

Tùy theo mức độ lan rộng của vùng teo mà người ta chia làm 3 mức độ khác nhau.

+ Nhẹ: tương ứng với C1 hoặc C2.

+ Vừa: tương ứng với C3 hoặc O1.

+ Nặng: tương ứng với O2 hoặc O3.

Đánh giá viêm teo ảnh hưởng tới ung thư dạ dày:

Người ta ước tính nguy cơ ung thư tăng 1,7 lần nếu viêm teo mức độ vừa. Tăng 4,9 lần nếu viêm teo mức độ nặng. Tiệt trừ HP có làm giảm nhưng không thể ngăn  ngừa nguy cơ viêm teo tiến triển thành ung thư dạ dày.

Chẩn đoán viêm teo niêm mạc dạ dày

Triệu chứng chung:

Đây là bệnh mạn tính nên triệu chứng không khác người bị viêm dạ dày thể tỳ vị hư hàn là mấy. Cũng ăn không ngon, thỉnh thoảng đau lâm râm vùng thượng vị, đau tăng khi trời lạnh hoặc sau ăn đồ ăn có tính lạnh như: trai, ốc .v.v…

Đặc biệt ở người bị viêm teo niêm mạc dạ dày là bị thiếu acid nên tiêu hóa chậm, hay đầy bụng, cảm giác nặng nề vùng bụng, có thể đau âm ỉ hoặc có thể đau nhiều ở vùng bụng kiểu rối loạn tiêu hóa, nhất là sau khi ăn hoặc uống đồ ăn tanh, lạnh, khó tiêu hoặc chất kích thích. Ở giai đoạn sau của viêm teo niêm mạc thường chỉ thấy đầy bụng, nặng bụng, chậm tiêu mà không cảm thấy đau nữa.

Điểm nữa là bệnh nhân hay bị đại tiện táo lỏng thất thường, hay đi ngoài phân nát, gầy sút cân do thiếu acid và các yếu tố nội dẫn đến hấp thu và chuyển hóa kém nên thiếu máu, suy nhược cơ thể hậu quả là hay hồi hộp tức ngực do thiếu máu cơ tim cơ năng làm bệnh nhân lo nghĩ .v.v….

Chẩn đoán xác định:

YHHĐ chẩn đoán bằng đo lượng acid trong dịch vị lúc đói thấy giảm.

Chính xác nhất là dựa vào kết quả nội soi dạ dày bằng ống soi mềm, kỹ thuật sinh thiết và soi trên kính hiển vi.

Theo quan điểm của y học cổ truyền

Viêm teo niêm mạc dạ dày mạn tính là bệnh danh của y học hiện đại. Y học cổ truyền thường mô tả chứng bệnh này trong các phạm trù “ Vị quản bổ mãn”. Tại Hội nghị Trung y toàn quốc lần thứ 3 của Trung Quốc (1985) đã thống nhất bệnh danh Y học cổ truyền là: “ vị bĩ ”. Y học cổ truyền cho rằng, bản chất bệnh là do tiên thiên bất túc, tỳ vị hư nhược, ẩm thực thất tiết lại thêm tinh thần thái quá làm cho tỳ vị giảm chức năng hoá giáng, giảm chức năng vận hoá và chuyển hoá dẫn đến khí - huyết uất trệ. Phủ vị trường không được nuôi dưỡng đầy đủ, giảm khả năng co bóp. Bệnh tiến triển từ từ.

Thời kỳ đầu, tỳ vị thu nạp hoá giáng đồ ăn thức uống giảm làm can mộc mạnh hơn nên khắc tỳ vị thổ. Đó là chứng “tỳ hư can uất” . Phương pháp điều trị phải bồi thổ ích trung – thư can hoà vị.

Tiếp theo do can vị bất hoà như thế nên không kiện vận được thủy cốc đồng thời vị khí suy giảm (yếu tố của tỳ vị hư hàn) dẫn đến thấp thịnh. Thấp thì hại tỳ, lâu ngày tỳ dương bị thương tổn, làm cho thấp ở trường vị nên vị bị suy giảm chức năng (tiền đề cho thoái hóa niêm mạc) và hay đi ngoài phân nát (thấp). Điều trị phải ôn trung tán hàn, kiện tỳ hoà vị hoặc đại bổ tỳ vị.

Tiếp theo thấp uẩn lâu ngày hoá nhiệt, nhiệt làm thương âm đó là chứng vị âm hư nên bụng đói mà không muốn ăn. Lúc này điều trị phải dưỡng âm ích vị – thanh hoá thấp nhiệt.

Thời kỳ cuối của bệnh là trung khí hư tổn, khí – huyết uất trệ, khí hư huyết ứ. Phương pháp điều trị phải bổ trung ích khí – hoạt huyết hoá ứ.

Nguyên lý bệnh sinh theo y học cổ truyền:

Vị là bể chứa, là nơi chưng cất tiêu hóa của đồ ăn thức uống “ thuỷ cốc “, là nguồn gốc hoá sinh của khí huyết đồng thời là phủ đa khí đa huyết, ưa thông mà ghét ứ trệ nên bệnh ở vị không chỉ ảnh hưởng đến khí mà còn ảnh hưởng đến huyết gây nên bệnh khí trệ huyết ứ.

Bệnh tuy thuộc vị nhưng lại quan hệ chặt chẽ với tỳ và can, can tàng huyết, vị chủ thu nạp làm chín nhừ thức ăn. Can thuộc mộc, vị thuộc thổ, mộc luôn khắc thổ để giữ thế cân bằng, nhưng nếu can mất điều đạt thì vị khí uất trệ làm cho huyết hành không được nên sinh đau.

Tỳ thống nhiếp huyết, chủ vận hoá, tương quan biểu lý với vị, một thăng một giáng cùng với vị để hoá sinh khí huyết. Nếu tỳ khí hư nhược, vận hoá kém, thăng giáng thất thường gây nên chứng khí – huyết uất trệ ở vị gây chứng đau dạ dày.

 Thời kỳ đầu, đa phần bệnh thuộc khí, thời kỳ sau thường bệnh chuyển đến huyết. Nên đông y cho rằng bệnh mới sinh chữa ở khí, bệnh lâu ngày phải chữa cả khí và huyết.

Ngày nay nhiều người bị viêm teo niêm mạc dạ dày, ngày càng trẻ hóa, bệnh khó chữa làm nhiều người hoang mang, lo lắng, trầm cảm, bi quan. Nguyên nhân có thể do nhiều yếu tố liên quan đến lối sống, thuốc men và sinh hoạt hiện đại mà ngày xưa rất ít. Một trong những nguyên nhân đó từ thói quen ăn uống thường gặp sau đây:

Theo tiến sĩ Từ Ngữ trao đổi trên VTV, ngày nay do thói quen sử dụng dầu ăn của chúng ta vào chiên (rán) xào … nhất là dầu chiên lại nhiều lần làm tăng hàm lượng Aldehyde lên tới 200 lần so với ngưỡng an toàn.

Tác hại của Aldehyde là thoái hóa tế bào thần kinh gây các bệnh như mất trí nhớ…. Nó còn gây ung thư bởi sự nhiễm độc tế bào… Như vậy Aldehyde là một tác nhân quan trọng trong bệnh viêm loét dạ dày mà không đau do tình trạng thoái hóa tế bào thần kinh. Đồng thời nó cũng có thể là một trong những nguyên nhân gây ra viêm teo niêm mạc dạ dày (cần có sự nghiên cứu của các nhà khoa học). Đương nhiên nó cũng là một trong những tác nhân gây ra trào ngược dạ dày bởi tính chất gây thoái hóa và ngộ độc tế bào của nó. Do vậy các nhà khoa học khuyên chúng ta nên trộn dầu hoặc chỉ nấu canh hoặc chỉ chiên xào nhanh để tránh tác hại mà vẫn giữ được lợi ích tốt của dầu ăn. Những người trào ngược dạ dày ăn món chiên nhiều lần là thấy liền.

Thuốc đặc trị:

Đông y gia truyền Khương Phúc đã chữa nhiều ca thể viêm teo niêm mạc dạ dày đều khỏi. Chú ý: viêm thô, viêm sần cũng là một dạng gần giống với viêm teo niêm mạc dạ dày. Cho nên tôi xếp viêm thô, viêm sần, viêm teo vào cùng một nhóm.

Bài thuốc Bình vị chỉ viêm tán có công thức chữa cho bệnh này. Với pháp điều trị: hoạt huyết hóa ứ, đại bổ vị khí, chỉ viêm. Chữa cả triệu chứng và nguyên nhân nên bệnh khỏi, một thời gian sau niêm mạc dạ dày được nuôi dưỡng sẽ hồi phục niêm mạc, hết teo.

Bài này không chữa được trường hợp đã xơ hóa niêm mạc.

TÍNH NĂNG TÁC DỤNG CỦA BÀI THUỐC:

 Do dược lực của bài thuốc rất mạnh, vừa kháng viêm của thuốc kết hợp kháng viêm tự miễn, vừa hồi phục chức năng vừa thải độc nên trong khi điều trị có lúc như là đã khỏi, có lúc lại như bệnh tăng lên, chỉ đến khi không còn triệu chứng gì, ăn ngon miệng hấp thu tốt thì mới khỏi, ai cũng tự theo dõi được.

-         Hồi phục chức năng hay còn gọi là hành khí nghĩa là làm thông chức năng tiêu hóa, lý khí nghĩa là đưa khí về tạng phủ, hồi phục chức năng tiêu hóa cho nên khi uống thuốc sẽ có tác dụng cân bằng tiết dịch vị, acid, enzim tiêu hóa hay nhu động đường tiêu hóa .v.v... nên khi uống thuốc sẽ thấy giảm hoặc hết đau, nóng rát, ợ hơi, trào ngược hay đầy bụng, đi ngoài dễ hơn, có thể thấy sôi bụng, ăn ngon hơn hoặc thấy hồi phục đau ở người không đau .v.v…. Hành khí, lý khí, hoạt huyết còn đưa khí huyết nuôi dưỡng và phục hồi vùng cơ bị teo nên viêm teo sẽ khỏi trước rồi mới đến viêm thường.

-         Thải độc thấy rõ ở những người bệnh lâu năm hoặc trào ngược dạ dày (trào ngược dạ dày là quá trình bị ngộ độc tiêu hóa mạn tính) như: thực tích đầy bụng lâu ngày gây nhiễm độc tiêu hóa khi uống thuốc sẽ thấy sôi bụng, đi ngoài ra phân lỏng nát hoặc kèm theo cục vón đặc biệt là mùi rất khó chịu. Đờm tích ở người bệnh lâu năm, người yếu hay nằm hoặc u uất khi uống thuốc sẽ nôn ra nhiều đờm dãi, những người này thường thấy ở ngay liều 1 hoặc 2. Người có huyết độc (nhiễm độc ở máu) lúc thải độc phân có màu lạ hoặc có khi đen, xám màu .v.v…. nhưng không phải là xuất huyết tiêu hóa, những người này thường thấy ở liều 3 hoặc gần khỏi.

-         Kháng viêm: với tác dụng của thuốc kích hoạt quá trình kháng viêm của cơ thể kết hợp kháng viêm của thuốc nên khi đó sẽ thấy thân nhiệt tăng hơn, máu lưu thông mạnh hơn, bạch cầu tăng để thực bào vùng viêm. Người bệnh sẽ thấy đau, nóng, đầy, ợ hơi hoặc ợ nóng là thế, với người bị viêm trên lớp niêm mạc nông thì cảm giác không nhiều còn với người bị viêm sâu dưới lớp cơ thì sẽ đau nhiều hơn, lâu khỏi hơn, người có diện tích vùng viêm rộng sẽ thấy đau và nóng nhiều hơn…. Người đáp ứng thuốc tốt thì nhanh khỏi, người đáp ứng thuốc chậm thì lâu khỏi.   

-         Chỉ huyết, sinh cơ: chỉ huyết nghĩa là cầm máu nên khi uống thuốc sẽ ngừng ngay xuất huyết dạ dày chỉ sau 1 lần uống và thường sẽ dừng hẳn sau 1 tuần uống thuốc. Sinh cơ là tái tạo lớp cơ niêm mạc dạ dày ở những người bị viêm teo, viêm trợt, loét, nhất là loét sâu nên khi khỏi không để lại sẹo.   

-        Sau khi khỏi HP cũng hết.

Xem thêm ở bài viết chung thuốc chữa đau dạ dày

VÀI TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH.

viêm teo niêm mạc dạ dày

      Bệnh nhân viêm teo niêm mạc, viêm teo khỏi trước, sau khi uống 2 đợt thuốc của tôi, còn viêm xung huyết khỏi sau.

viêm teo niêm mạc dạ dày, bao tử   

thuốc chữa viêm teo niêm mạc dạ dày

Bệnh nhân này xét nghiệm mô bệnh học bị viêm teo niêm mạc dạ dày.               

viêm trợt lồi hang vị dạ dày

 

 

dị sản ruột, chuyển sản ruột

viêm teo C1, C2, C3, O1, O2, O3 là gì

 

 

                        "Sức khỏe là tài sản vô giá "

                                        Chúc các bạn sức khỏe và hạnh phúc !                                                  

                                                         Lương y : Vũ Ngọc Khương.

 Một số bênh nhân tiêu biểu

- Ngày 11/9/2008 : Nguyễn thị Ngh…đ/c : đô thị mới Định công – Hà nội . Triệu chứng : đau , đầy tức , nóng rát vùng thượng vị , ăn kém ,khó tiêu . Mạch hoạt sác. Kết quả nội soi : viêm xung huyết niêm mạc dạ dày – môn vị - hành tá tràng . Đã uống nhiều loại thuốc không khỏi. Uống 1 đợt ( 3 liều ) BN đã khỏi . Ngày 21/8/2013 đến lấy thuốc cho con trai hỏi lại không thấy tái phát , ăn uống tốt , người béo khỏe ....chi tiêt

Tìm kiếm

 Bài viết chính